Bài mới nhất

 

 

                   Có những miền đất người ta không đến bằng đôi chân trước, mà đến bằng một tiếng gọi âm thầm nào đó trong lòng. Pác Nặm (Bắc Kạn) là một miền đất như thế, nơi núi rừng bát ngát ôm trọn những bản làng nhỏ bé vào lòng, nơi mây trắng vắt ngang lưng chừng đồi như một dải khăn bất tận của đất trời. Và nơi, giữa cái nghèo, cái khó, cái xa xôi cách trở, nhưng lòng mến Chúa cùng tình người vẫn lặng lẽ nảy mầm, bền bỉ như cỏ dại mọc lên từ khe đá. Tôi đặt chân đến đây vào dịp hè vừa rồi, khi tâm trí còn ngổn ngang những mệt nhọc của một năm học dài, mang theo không ít hoài nghi về những gì mình có thể cho đi. Nhưng chính giữa miền đất ấy, giữa những điều tưởng như chẳng có gì để gọi là "đủ đầy", tôi lại thực sự chạm vào ý nghĩa sâu xa của hai chữ "niềm vui"  niềm vui ngày hè nơi đại ngàn này.

              Đây không phải là lần đầu tiên tôi ngược lên vùng cao, cũng không phải lần đầu tiên tôi được sống giữa người đồng bào. Thế nhưng chuyến đi lần này lại khác. Nó không đi qua tôi như một trải nghiệm, mà đi vào tôi, Chạm đến phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn, để rồi ở lại đó, âm thanh âm ỉ và dịu dàng, như hơi ấm bếp lửa còn vương trên áo sau một đêm ngồi bên nhà sàn.

                    Giai điệu bài thánh ca của Linh mục Vinh Hạnh vẫn hằng ngân vang: “Đâu có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời” và đó cũng là chân lý mà đại văn hào Nga Leo Tolstoy từng dùng để đặt tên cho một tác phẩm để đời của mình. Tôi tin, giữa những bản làng nghèo khó, thiếu thốn đủ điều ấy, Ngài đã âm thầm chọn cư ngụ, không phải trong những gì đầy đủ, huy hoàng, mà trong những con người chẳng có gì để trao ngoài một tấm lòng rộng mở đến vô cùng. Hai tuần đồng hành tuy thật ngắn ngủi, nhưng đủ dài, đủ sâu để tôi được sống trọn từng khoảnh từng khắc: được cùng học, cùng làm, cùng gặp gỡ và chia sẻ với những “mầm non” chân chất nơi miền sơn cước này.

                  Mỗi độ hè về, khi mưa rào đầu mùa gột dịu nắng gắt trên sườn đồi cũng là lúc giáo xứ Pác Nặm lại rộn ràng chuẩn bị cho khóa sinh hoạt hè. Với ưu tư của mục tử và tình thương mến bao la dành cho đoàn chiên, Cha xứ Phêrô đã dành trọn khoảng thời gian quý báu này để mở ra khóa sinh hoạt hè, chốn hẹn thân thương quy tụ những thiếu nhi từ khắp các bản làng về với giáo xứ sau những ngày tháng miệt mài bên trang sách và những ngày hè vất vả theo ba mẹ lên nương rẫy. Đây là lúc các em được trở về trong vòng tay yêu thương của Giáo xứ. Giữa tiếng kinh nguyện sốt sắng, những giờ học, và những tiếng cười rộn rã, các em không chỉ được bồi đắp đức tin, học hỏi tri thức, mà còn được sống trọn vẹn những tháng ngày tuổi thơ êm đềm và ý nghĩa nhất.

            Trở về giáo xứ Pác Nặm hè này là những em thiếu nhi độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi,  những đứa trẻ người H'Mông, Dao, Sán Chỉ... mang trên mình sắc màu thổ cẩm và trong ánh mắt vẫn còn nguyên tinh khiết nguyên nét ngây thơ của núi rừng. Các em là những mầm non được cha mẹ tin tưởng gửi trao cho vị mục tử nhân lành là Cha xứ Phêrô Nguyễn Quang Doãn, cùng quý thầy và quý anh chị đồng hành.

                  Đó là những đứa trẻ thật “đặc biệt”, mỗi em mang trong mình một hành trình đức tin riêng, chẳng ai giống ai. Có em đã theo Chúa được vài năm; nhưng cũng có những em mới chỉ biết đến Chúa qua đôi ba lần Cha lên bản để gieo những hạt giống Tin Mừng đầu tiên, có gia đình mới đón nhận đức tin được một tháng, ba tháng, hay vừa tròn một năm, còn non nớt như chồi cây vừa nhú khỏi lớp đất khô. Những ngày đầu gặp nhau, sự rụt rè hiển hiện rõ ràng trên những khuôn mặt lấm lem nắng gió, trên đôi bàn tay chai sạm vì quen cầm cuốc hơn cầm sách. Có em còn lúng túng, chưa biết làm dấu thánh giá sao cho đúng; có em môi khẽ mấp máy mà chưa thuộc trọn một lời kinh; và có những ánh mắt cứ cúi xuống, ngần ngại không dám nhìn thẳng mỗi khi bước qua lớp học, như thể các em vẫn còn đang dò dẫm tìm đường vào một thế giới hoàn toàn mới mẻ, nơi Thiên Chúa còn là một cái tên vừa lạ vừa quen.

                 Nhưng rồi tôi nhận ra, chính sự rụt rè ấy mới là điều đẹp đẽ nhất. Bởi cho thấy đức tin nơi đây không phải là một bài học được truyền trao rồi khép lại, mà là một hạt giống đang được gieo xuống, đang lớn lên từng ngày, chậm rãi và bền bỉ, như măng tre âm thầm chọc đất vươn mình. Lời Chúa Giêsu vẫn còn vang giữa núi rừng này: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng" (Mt 19,14). Và giữa khoảng trời bao la của ngàn khơi, giáo xứ nhỏ bé ấy đã trở thành một mái nhà chung, một vòng tay đủ rộng để ôm ấp tất cả những tâm hồn đơn sơ, nhỏ bé…

                Khoảng thời gian ấy, mỗi ngày trôi qua đều mang trong mình một dòng chảy âm thầm của tình yêu, thứ tình yêu rất đỗi bình dị, lặng lẽ len vào từng giờ học, từng bữa cơm chung, từng câu chuyện. Buổi sáng, chúng tôi cùng các em học Giáo lý, học Thánh Kinh – những trang sách mở ra cho các em một thế giới của tình yêu và ơn cứu độ; rồi đến những bài học nhân bản giản dị mà thấm thía, dạy các em biết yêu thương, biết sẻ chia, biết sống tử tế. Buổi chiều, khi nắng đã dịu bớt trên sườn đồi, lớp học lại chuyển sang một nhịp điệu khác, rộn ràng hơn, tươi vui hơn với những giờ học đàn, học nhạc. Có em lần đầu tiên trong đời được chạm vào những phím đàn, ngón tay còn lóng ngóng, vụng về; có em lại tỏ ra có năng khiếu bẩm sinh, chỉ nghe qua vài lần đã có thể bắt nhịp theo giai điệu. Nhưng dù nhanh hay chậm, các em đều học với một sự say mê, như thể âm nhạc chính là cánh cửa để các em bước gần hơn đến với Thiên Chúa hơn.

             Chiều chiều, khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống nơi lưng đồi, cả thung lũng chìm dần trong một màu trắng mờ ảo như một tấm khăn voan phủ nhẹ lên vạn vật. Các em lại quy tụ nơi nhà nguyện nhỏ bé, thân thương để tham dự Thánh lễ và dâng trọn một ngày sống lên Chúa. Tiếng hát, tiếng kinh nguyện của các em cất lên ngân nga giữa không gian tĩnh lặng nghe như thể chính núi rừng cũng đang hòa nhịp cầu nguyện. Chính những giây phút bình dị mà ấm áp ấy đã âm thầm xóa nhòa mọi khoảng cách: khoảng cách giữa miền ngược với miền xuôi, giữa người hướng dẫn và các học viên, để cuối cùng chỉ còn đọng lại một tình anh em chân thành trong Đức Kitô.

                 Cuối tuần, tôi cùng quý Cha, quý Thầy và các em lại lên đường đến với các điểm bản xa để dâng và phục vụ Thánh lễ. Tại những nhà nguyện đơn sơ ấy, những đứa trẻ mới hôm nào còn ngập ngừng, e ấp nay đã tự tin ôm đàn, cất tiếng hát đáp ca và xướng lời nguyện dâng lên Thiên Chúa cùng cộng đoàn.

             Thời gian trôi qua, đức tin và sự trưởng thành cứ thế lặng lẽ lớn lên trong tâm hồn nhỏ bé: đôi vai không còn khép nép, ánh mắt không còn e ngại, và giọng nói cũng chững chạc dần qua từng Thánh lễ. Các em nhận ra mỗi ơn lành nhận được không phải để giữ cho riêng mình, mà là để sẻ chia, đúng như lời Thánh Phêrô từng dạy: "Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người phải dùng mà phục vụ người khác" (1 Pr 4,10).

             Khóa hè vì thế không gói gọn nơi khuôn viên của giáo xứ, mà đã trở thành một hành trình gieo mầm đức tin sống động. Những "hạt giống" vừa được đón nhận hôm qua, hôm nay đã biết tự tay gieo tiếp vào lòng bản làng; và cũng chính trên hành trình ấy, các em đã trưởng thành, không chỉ vững vàng trong đức tin, mà còn tự tin nhận ra giá trị của bản thân khi biết sống vì người khác.

              Kỳ tích của Khóa hè được khép lại bằng một Đêm hoan ca tạ ơn đong đầy cảm xúc. Cha xứ Phêrô đã quy tụ con cái từ khắp các bản làng xa xôi; nhiều gia đình chẳng ngại đường xá gập ghềnh, vượt qua từng con đèo dốc núi về nhà Đức Chúa, để cùng với các con và cộng đoàn dâng lời tạ ơn Chúa sau một khóa học mùa hè trọn vẹn.

              Bữa tiệc buffet ấm cúng quây quần bên nhau, hòa cùng không khí rộn ràng của đêm hoan ca, đã dệt nên một ký ức đẹp khó phai. Trên sân khấu lung linh dưới ánh đèn vàng, trước ánh mắt yêu thương và sự động viên của Cha xứ, quý Thầy, các anh chị đồng hành cùng cha mẹ, chính các em—những đứa trẻ mà chỉ mới hai tuần trước còn bỡ ngỡ, lóng ngóng, rụt rè mà giờ đây đã tự tin cất cao tiếng hát, hòa mình vào từng vũ điệu và hóa thân vào các vở kịch một cách hồn nhiên, như những đóa hoa rừng vừa bung nở rạng rỡ sau cơn mưa dài.

            Mỗi em là một mảnh ghép nhỏ mộc mạc mà lung linh, cùng nhau dệt nên bức tranh kỳ diệu giữa lòng xứ núi này . Người ta vẫn thường bảo Pác Nặm là vùng đất sỏi đá khô cằn. Nhưng đêm ấy, tôi đã tận mắt chứng kiến sỏi đá nở hoa—không phải bằng một phép màu kỳ ảo, mà bằng sự chân thành của trẻ thơ, bằng lòng nhiệt thành và sự hy sinh âm thầm của vị mục tử cùng quý Thầy cô đồng hành. Lời ngôn sứ Isaia như ứng nghiệm trọn vẹn ngay đêm đó: "Sa mạc và đồng khô cỏ cháy sẽ vui mừng, vùng đất khô sẽ nhảy múa và nở hoa" (Is 35,1).

             Chuyến đi khép lại, như mọi cuộc gặp gỡ đẹp đẽ đều có lúc chia tay. Nhưng âm hưởng niềm vui ngày hè nơi đại ngàn vẫn đọng lại da diết, như dư vị chén trà nóng giữa sương lạnh vùng cao, càng để lâu càng đậm. Truyền giáo, suy cho cùng, không phải mang đến điều to tát, mà là sự hiện diện, một cái nắm tay, cùng ăn, cùng ở, cùng cầu nguyện, sưởi ấm nhau bằng chính Tình Yêu không cần gọi tên những vẫn lặng lẽ lan tỏa.

               Tôi thầm tạ ơn Thiên Chúa vì một mùa hè đong đầy hồng ân và những kỷ niệm êm đềm nơi núi rừng Pác Nặm. Nơi các em, tôi hiểu được thế nào là sự chân thành thuần khiết, hiểu rằng tình yêu thương khi được trao đi bằng trái tim trọn vẹn sẽ luôn gõ cửa và ở lại trong với những tâm hồn mộc mạc nhất. Đúng như Thánh Vịnh đã viết: "Người đi trong nước mắt, gieo hạt giống gặt vui mừng" (Tv 126,5). Hạt Tin Mừng gieo trên đá sỏi Pác Nặm hôm nay, chắc chắn sẽ tiếp tục vươn mình, đơm hoa kết trái giữa chốn ngàn xanh bao la, dẫu người gieo có ở lại hay đã rời xa, bởi trong thư Cr đã viết: "Tôi trồng, Apollô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho mọc lên" (1 Cr 3,6).

 

Ai lên Pác Nặm ngày hè,

Mà nghe đá sỏi cũng se sẽ cười.

Sương giăng mấy lớp lưng đồi,

Trẻ thơ tay nhỏ nắm nơi tay mình.

Kinh chiều quyện giữa rừng xanh,

Lời ca chưa sõi mà thành lời thương.

Mai này xuôi bước dặm trường,

Còn nghe tiếng núi gọi nhường bước chân.

Hạt gieo trên đá cằn khô

Chờ mùa nắng ấm nở ngàn cánh hoa.

Đại ngàn – một khúc tạ ơn,

Người đi để lại chút hồn xôn xao.






 


 

         Từ khi tôi về vùng đất “lâu dài thịnh vượng”- Vĩnh Thạnh- Cần Thơ này, ở nơi căn nhà dài điển hình của người miền Tây nơi mênh mang cánh đồng, nơi tháp chuông nhà thờ như xuyên qua những đám mây như những cục bông goòng lơ lửng trên trời, có những con ghe rọt qua kênh từ sáng sớm tới đêm muộn. Tôi cứ nghe người ta nhắc suốt về cái tên Phượng! Người thì gọi là bà, người kêu chị, người kêu bác. Và người ta nhắc nhiều về cái chết đầy mạnh mẽ của bác.

         Bác sinh ra trong gia đình có truyền thống đạo đức, nề nếp tôn chỉ gia giáo của người Bắc di cư vào Nam khai hoang và lưu cư nhiều vùng khi cha đi đánh trận. Bác Phượng cười hiền hòa rạng rỡ, có mái tóc xõa vai gầy, nói chuyện hài hước, dễ nóng tính và cũng dễ cho qua. Bác không lấy chồng, không phải bác ế, không phải bác lỡ thì lỡ bước mà là bác hy sinh cho các anh em mình sống đời dâng hiến. Gia đình có 5 người đi tu và bác vẫn luôn khuyên các em mình “cứ đi đi có chị lo cho gia đình” rồi đến khi bác mất trước cả má mình, để lại nhiều nỗi day dứt cho các em đi tu, bác để lại cả một kho tàng những bài học sống làm người, làm con, làm chị làm em, làm một người sống đời độc thân làm việc nhà Chúa quảng đại. Bác chẳng học cao những lớp máy móc đóng sách vở ấy vậy mà những công việc trên máy tính thời hơn hai thập niên trước, bác đã soạn những tài liệu, đánh máy vi tính làm sách vở rộng rãi cộng tác cùng cha xứ. Bác chẳng được đào tạo từ nhạc viện mà cũng làm ca trưởng thành lập hai ca đoàn mà tới giờ khi bác đã đi xa, những hạt giống bác đã gieo trổ sinh bông hạt tới những thế hệ sau này. Bác chẳng được đào tạo diễn xuất mà cũng là cây văn nghệ có tiếng của vùng….tới ngay cả khi nhận tin bệnh hiểm nghèo khẽ chạm tới mình, bác vẫn chu toàn tất cả những bổn nhiệm ấy cách đơn thành và tín trung. Có lẽ vì những thứ sống động như thế mà người ta vẫn cứ nhắc tên bác mãi.

          Tròn 10 năm bác về với Chúa. Tôi chưa hề được sờ, ôm nơi da thịt bác ấy, vui, khóc cùng trải qua những truân chuyên trong đời bác ấy, nhưng sao tôi thấy bác ấy thật gần, rất gần với tôi ở đây. Người ta vẫn kể về cái chết của bác như được dự báo trước, như bác biết được giờ chết của mình mà sống trung kiên đến những giây phút cuối cùng bám chặt vào Chúa là Đấng chịu đóng đinh trước, rồi giờ thì tới mình vậy. Còn vài ngày cuối giờ tiễn biệt dương thế, bác nằm trên chiếc võng cũ đong đưa vài nhịp cho dịu bớt cơn đau, chẳng thể kêu ai. Nơi những nhịp điệu ấy chắc bác tạ ơn về hành trình được làm con Chúa, con của ba má cố của các linh mục, tu sĩ, là chị của các em mình, là em của các anh mình, là những người bà, người bác, người chị, người bạn mà để tới giờ tròn một thập niên đi qua người ta vẫn nhắc về cái tên Phượng! Nơi con nít nhìn thấy bác như một bà Tiên giáng trần luôn hiện đúng lúc chúng đang bị nạt nộ, nơi chúng đang thèm muốn một cây kẹo mút, một bịch snack. Nơi người hàng xóm láng giềng như một vị giảng hòa đầy uy thế trong cách xử trí khôn ngoan. Nơi một con chiên, bác đã chu toàn thật tốt nơi bậc sống bác đã chọn và làm việc Tông đồ. Nơi một người thân, bác đã sống hy sinh quảng đại cả cuộc đời để các anh em mình hiến thân để phục vụ tha nhân. Ấy thế mới nói, một người hy sinh làm hy lễ để hy lễ ấy dâng lên làm lễ tế, là Tấm Bánh được bẻ ra cho muôn người khác. Một vòng lặp của những hy sinh quên mình, quảng đại hiến dâng từ những nhỏ nhoi xiêu lòng cho nhiều cuộc đời khác được trổ sinh.

        Phượng! Người ta nghĩ đến những rực rỡ, những góc trời đỏ rực đẹp thật đẹp với những kỉ niệm đáng nhớ của mọi lứa tuổi. Và dẫu cho phượng có rụng xuống từ trên cây, người ta vẫn lấy những cánh phượng ấy ráp lại thành những con bướm, chú chim, bông hoa…nhiều hình thù đầy dấu ấn khác kẹp trong vở. Bác Phượng rời dương thế đây cũng đang vào mùa phượng nở rực rỡ nhất, những ngày hè đầy phượng đỏ rợp khung trời. Bác rời đi cũng vẫn giữ vẹn nguyên cái tên và đầy những rực rỡ của cuộc đời bác sống. Bởi thế, càng hè, người ta càng nhắc tên Phượng nhiều! Chẳng còn quá u buồn nuối tiếc cho những mất mát, lìa xa nhưng như những cánh phượng rực rỡ chan hòa trong nắng ngập tràn khung trời yêu của sự mộng mơ, tình yêu nồng cháy của mọi lứa tuổi. Bác Phượng vẫn mãi ở đó! Gieo vào đời những bài học hy sinh quên mình, quảng đại cho đi trong tất cả. Để giờ đây dù bác đã đi xa nhưng ai cũng vẫn thấy bác còn rất gần và rất thật, rất sống động được sáp nhập vào nơi mỗi người được nghe về cuộc đời bác, một cuộc đời như hạt lúa mì gieo xuống đất đã chết đi, thối đi để đơm hoa kết trái trổ sinh bông hạt.

Phượng! như ánh nắng ban mai,
Mang theo hơi ấm trải dài yêu thương.
Âm thầm bước giữa đời thường,
Sống theo Lời Chúa dẫn đường ngày đêm.

Bao lần lặng lẽ mỉm cười,
Nhận phần vất vả cho người hiến dâng.
Tấm lòng rộng mở dịu hiền,
Yêu thương trao gửi khắp nơi chân thành.

Hy sinh chẳng đợi công danh,
Quảng đại như gió mát lành mùa xuân.
Sống ôi! trọn nghĩa, trọn ân,
Để đời lưu lại muôn phần yêu thương.

Nguyện xin Chúa thắm tình thương,
Nhận lời con nguyện- Phượng về chốn thiêng
Để trong từng bước thời gian,
Chúng con tín cậy chỉ vào Ơn Trên.

Hoàng Anh

Biên lại ngay sau giờ kinh giỗ 10 năm bác Phượng

Cần Thơ, ngày 05 tháng 07 năm 2026

Miền Tây có một nền kinh tế tảo tần, tử tế nằm ở dưới ghe, tiếng rao trên đường, đầu chợ, cuối chợ, trong cái túi nilon buộc vội treo trước cửa nhà.

Nó vận hành bằng những con người chân chất, dễ gần, dễ thương, từ từ bình tĩnh và rất kém than thân.

Nền kinh tế ấy không sang, nhưng tinh và chất. Nó biết nhà nào có trẻ con không ăn sáng, mà ăn hộp sữa chua, bịch snack rồi đến trường, cụ nào kiêng mỡ, chị nào giảm cân, người nào dị ứng, ai đang kẹt thì cứ nói “ăn đi mơi tính, nào tính cũm đượt”.

Ở đó, dữ liệu khách hàng không nằm trên đám mây, nó nằm trong đầu bà bán thịt, anh bán cá, chị bán sữa chua, anh bán chổi, người bán cây dưới ghe, hàng xóm có trái bình bát chín mọng, có chiếc bánh bao thơm phức treo trước cổng nhà. Nó được lưu trữ bằng năm tháng và bằng một thứ tình cảm không thể gọi tên, vì gọi ra nghe hơi sến.


Người ta hay nói đến kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Miền Tây còn có kinh tế “mơi trả”, kinh tế “như mọi khi”, kinh tế “Hai ghi sổ”, “Tám cho thêm thịt”, “Bảy cho thêm bịch cốt dừa”…

Nó nhỏ, lắt nhắt, nhiều tiền lẻ. Nhưng chính tiền lẻ mới là thứ giữ cho con người ta sáp gần lại với nhau, ấm bụng theo nhiều nghĩa. Nền kinh tế này tử tế cả khi xã hội chạy đi khi gặp va chạm giao thông ở ngoài đường, thì họ lại lao vào và nói “gọi xe cho đi bệnh diện đi”, “lẹ lên hông con người ta chớt goỳ”… ôi cái nền kinh tế lục bục như nồi nước súp hủ tiếu trong quầy, bền bỉ như cái ghế nhựa đã nứt mà chưa chịu gãy.

Miền Tây hóa ra không giữ người ta bằng sự nghìn năm văn vở của những giáo sư hiền triết viết lách mà bằng những bịch nilon cốt dừa, đường thắng, vài cọng hành lá, vài trái ớt thêm sau khi đã mua hàng. Và bằng cái giọng dễ thương của người địa phương đầy chân thành, dễ mến.

Cái hay là trong cái nóng miền Tây, người ta vẫn ăn lẩu. Hàng hủ tiếu vẫn đỏ lửa, người ngồi quạt sườn cơm tấm bên bếp than. Lửa tiếp lửa làm cho người miền Tây luôn hào sảng, đầy tính nhiệt thành. Có khi nực rực trời người ta cảm nhận nắng nóng như đang phả vào mình hung hăng giao chiến. Nhưng tối đến, trời hồng phủ khắp trời yêu người ta lại ra đường, kéo ghế làm chén chè tào lao vài ba chuyện phiếm rồi về.

Người miền Tây mệt rồi vẫn thế, vẫn cứ nói trêu giỡn được sau một ngày vác lúa ướt sũng áo, vẫn ăn vội được hộp xôi rồi chạy xe tiếp, vẫn bán những thứ nhỏ bé tưởng chừng như bỏ, vẫn yêu nồng cháy dù ở trên ghe lênh đênh hay trên đường chạng vạng, vẫn cáu quạo vài ba lời thốt lên đặc sản, rồi vẫn cứ cười hào sảng.

Trong cái nóng rực lửa, cháy da, đen như Miên ấy, người miền Tây nom hơi mướt mát, hơi tội tội nhưng thật kiên cường và hạnh phúc như những mầm lúa non vươn lên từ rặng đường nứt nẻ.

Hoàng Anh


 

Chẳng khi nào lòng mình nguôi ngoai, cho những khát khao hướng về núi

Núi ôm mình vào lòng sau nhiều những chênh vênh,

 để mình lặng yên thênh thang trong hàng chiều lộng gió

Núi hôn khẽ lên bờ môi căng tràn tuổi trẻ mình,

với bao hương thơm qua những ráng chiều chạng vạng

Núi có trăng của những ngày cận rằm sau Tết

Trăng của núi tự do, tỏa sáng rực trời rồi mất hút trong làn mây tự khi nào

Núi có cỏ cây vươn lên mãnh liệt sau những giọt mưa xuân nhú chồi

Núi của mùa này sao mà yêu thương quá!

Mình thấy những thửa ruộng bậc thang xếp hàng hàng lớp lớp cùng tấm áo tím cài hoa rực,

Mình nghe được tiếng gió hiu hiu bay làn tóc rối bời

Nghe nắng nhảy lách tách trên từng chiếc lá, nụ hoa

Nghe hương thơm cỏ cây chạm vào những ngón tay mình khẽ chạm

Nghe hạt mầm gieo hôm nào trở mình

Và nghe thêm gió êm êm theo về

Ngồi yên nào, yên đủ lâu để nghe những điều rất khẽ đang chạm nơi trái tim

Mình hiểu có vài đổi thay cũng vừa chạm đến

Chưa gọi tên được đổi thay ấy, chỉ thấy mình đang khác đi.

Khác một cách rất hiền.

Chợt muốn giữ lại trong lòng, như giữ một buổi nắng ghé ngang hiên nhà.

Rồi thôi!

À không,

mình hẳn sẽ kể với một người.

Người đủ lặng để không hỏi thêm, 

và đủ thương để cùng mình góp nhặt tất cả những điều bé nhỏ, trong veo như cổ tích nơi miền sơn cước này.

Hoàng Anh



 

Mùa nước soi trăng

             Mỗi chiều xuống, trời Tây Bắc nhuộm hồng phủ lên hết cả dãy núi trong xanh trước mặt tôi là những đám mây hồng trôi lững lờ như người mẹ và đám con thơ trở về nhà sau một ngày với những thửa ruộng bậc thang mùa vụ. Những thửa ruộng bậc thang có nước nguồn đang về, soi bóng những dãy núi nhấp nhô, bạt ngàn, làm long lanh làn nước. Rồi cái nhìn của tôi cũng chếnh choáng và ươm thơ. Mùa này, tôi đã về với anh chị em H’mông.

             Khi ngồi lại để ngẫm về hành trình này, vang lên trong tôi lời Kinh Thánh trong Lc 10, 2-5 “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!”. Tôi đã ra đi và ở lại, ở giữa họ, giữa những người anh em đồng bào của mình, ăn chung, ngủ chung và mọi thứ sinh hoạt cùng nhau, về đời sống hằng ngày và cả về đời sống tôn giáo. Bản này mới theo đạo được hai tháng nay, mọi thứ với họ vẫn còn rất mơ hồ, họ sống giữa những anh chị em Tin Lành. Khi tôi có cơ hội được cộng tác với bất cứ vùng nào, điều tôi luôn mong muốn đó là được “ở cùng họ”. Kinh nghiệm này rất quý báu và phản ánh rõ việc sống chung, sống cùng và sống với con người với nhau. Hằng ngày, tụi trẻ con tụ tập tới để học kinh, chiều chiều tôi cùng mọi người đi chăn trâu, có hôm thì đi ruộng, có hôm thì đi coi nương ngô. Những ngày đầu, tôi bị ngã rất nhiều trên đường trơn, xoay sở làm sao để không bị ngã, đi chầm chậm mà vẫn kịp theo họ và theo trâu. Rồi những hôm đau tới ê ẩm toàn thân sau khi đi bộ trở về từ con đường đi ruộng hơn 30 phút đồng hồ. Tới cả những đêm nằm mà chỉ có ánh sáng duy nhất từ ánh trăng soi ngoài hiên nhà, xuyên qua những kẽ hở của căn nhà gỗ đặc trưng của người Hmông, đó là thứ ánh sáng duy nhất mà trong màn đêm tĩnh mịch, rõ cả tiếng dế giun cứ trôi cho tôi những tia sáng ấm áp và hiền dịu để ở lại. Từ những lúng túng ban đầu trong cách làm việc, đối thoại và sử dụng ngôn ngữ của họ, dần dà đã cho tôi những ngày ở đó một trải nghiệm và kinh nghiệm tuyệt vời về tình người trong sự hiện diện. Họ nói, tôi là người Kinh đầu tiên lên ở kiểu này với họ, họ thấy lạ vì xưa nay chưa có ai chịu được những thứ họ cho là khổ khi ở lại với họ. Với tôi, việc ở lại, sống chung, sống cùng và sống với họ rất thiêng liêng. Mỗi ngày hay mỗi khoảnh khắc, cử chỉ không chỉ còn là dạo qua mà như những buổi suy niệm đầy hoa và nến. Hết sức đơn sơ, vô cùng dung dị. Ở bản, có cụ già làng biết tiếng Kinh rất ít, cụ biết tiếng Tày và chủ yếu sử dụng tiếng Hmông, qua quan sát mấy ngày cụ thấy tôi không thể tắm được nước lạnh từ suối nên mỗi chiều tối tôi qua nhà cụ thì cụ đã nấu sẵn nước nóng và để đó cho tôi. Qua vài câu nói hỏi han và cử chỉ thấu hiểu cụ đã coi tôi trong tình thân với cụ, rồi cũng cho tôi cảm nhận một sự gắn kết đến lạ thường ở nơi một già làng hiện thân phản ánh bản. Chắc hẳn, chúng ta chạm nhau bởi trái tim và lý trí, đôi khi không cần những lời nói hoa mỹ hay cố gắng để tạo nét nhưng qua những cử chỉ, mọi người chạm nhau, chạm sâu thật sâu mà khi rời đi có cả những giọt nước mắt của sự níu lại.

         Tôi tin tưởng và ý thức sự hiện diện của chính Chúa Kitô đang hoạt động giữa những anh em của mình, giữa những trẻ thơ trong sương mỗi sớm và trên những ngọn đồi xa tít tắp với những công việc thường nhật, và Ngài hiện diện trong chính tôi. Chính khi này, tình yêu và niềm khao khát dấn thân “ở giữa họ” cho tôi một sức mạnh và sự kiên trung qua những biến cố. Nhà thơ người Anh John Donne đã viết: “Không ai là một hòn đảo, tự mình hoàn hảo được mình”. Tôi luôn cảm nhận Thiên Chúa thu hút chính tôi khi ở lại với họ, tham gia vào dòng chảy đời sống của mọi người như thể mỗi chúng ta đều là một gia đình gắn kết. Và nơi họ, tôi thấy Chúa, tôi thấy Chúa thật sống động qua từng hành động, từng cử chỉ dễ thương mà những em nhỏ vẫn tự nhiên mà có, nơi những anh chị em lam lũ nơi đồng áng, nương rẫy làm quanh năm suốt tháng như thể lao động chẳng biết mệt. Ở nơi nào có Chúa, tôi cảm thấy rất tự tin và luôn can đảm bước đi cùng họ. Là nơi núi đồi cao trập trùng, là như chênh vênh trên những con đường nhỏ nơi ruộng bậc thang, tôi vẫn ý thức mình đang bước đi trên mặt đất cùng với những người anh chị em của mình.

           Trăng sáng lên rõ từng cọng cỏ soi xuống thửa ruộng bậc thang mùa nước đầy, mai kia người dân sẽ đi cấy và rồi gặt lúa. Tôi soi chính mình xuống những làn nước long lanh ấy, thấy rõ mình dưới bóng trăng, dưới vòm trời và thấy tôi đang bước đi trên hành trình đầy hy vọng và tin tưởng này. Rồi tôi xác tín vào quyền năng và lòng thương xót của Thánh Tâm Chúa nơi suối nguồn dạt dào như Đức Thánh Cha Phanxico đã tuyên xưng đức tin cá nhân của mình trước khi chuẩn bị cho việc thụ phong Linh mục, Ngài viết trong hồi ký tự truyện Hy Vọng:

Tôi muốn tin vào Thiên Chúa là cha,

Đấng yêu thương tôi như một người con,

và tin vào Đức Giêsu là Chúa

Đấng thổi Thần Khí vào cuộc đời tôi,

để cho tôi được nở nụ cười

và dẫn tôi vào vương quốc hằng sống.

Tôi tin rằng những người khác tốt lành,

tôi phải yêu thương tất cả không sợ hãi

không bao giờ được phép phản bội,

để tìm kiếm an toàn cho bản thân.

Tôi tin vào cuộc đời hiến dâng.

Tôi tin rằng tôi muốn yêu thương tha thiết.

Tôi tin vào cái chết từng ngày bỏng rát

Dù trốn chạy, nó vẫn mỉm cười

mời gọi tôi vui tươi đón nhận.

Tôi tin vào lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa,

luôn hiền hòa và bao dung như đêm hè yên bình.

Hoàng Anh

                      

 

 

Với bạn, yêu thương bao nhiêu là đủ?


            Cũng lâu rồi mình mới rời xa Sài Gòn lâu thế, mọi khi đi cỡ 1-2 tuần là trở lại xong rồi đi đâu thì đi trừ khi mình về quê. Dịp này đi cũng gần cả tháng rồi mà mình chưa trở lại thành phố. Cái cảm giác nhớ nhung nơi mình gắn bó nó trỗi dậy, nó quấn lấy người mình như tigon mỏng manh bám chặt vào dây rào chăng chéo, mình nhớ những cảm giác ân tình của những con người xa lạ với nhau mà lại trao cho nhau bao nhiêu điều thân tình. Dịp này tuy không ở Sài Gòn nhưng cái cảm giác ấy cho mình tròn đầy hơn khi về miền Tây này.
            Mình về đây dạy học cho con nít, chữa bệnh cho người dân. Công việc hàng ngày là vậy gắn liền với nhà thờ và mọi người. Về nơi quen cũ mà như mới, mình đối diện với làn sóng vu khống, đặt điều và đủ thứ thật giả của vùng sông nước này. Nhưng may thay vẫn luôn có những người tốt, và mình vẫn sống như cách mình là. Những người chưa tin đâu vào đâu thì không dám đối diện với mình, còn ai tốt thì vẫn thế. Mà cũng rất khó để nhận định rằng ai tốt với mình! Nhưng mình sống không là hòn đảo mà nên những ai đối tốt với mình theo lẽ thường thì đó là người tốt. Hàng ngày, bệnh nhân mang trái cây đề huề tới cho mình đến nỗi có một mình ăn không thể nổi phải đi chia bớt, rồi tự lúc nào mình có tên là Cô Kẹo vì thói quen là lúc nào cũng có rất nhiều kẹo khi con nít xuất hiện là chúng có kẹo ngay. Mình ấn tượng với chị Hạnh- mẹ bé Sol lớp chồi mà mình dạy học, chị cao dữ lắm và cũng đẹp, không phải do chị luôn giúp mình ân cần khi mình về đây nhưng ai tiếp xúc cũng sẽ thấy chị ấy luôn nhiệt tình như thế. Hàng tuần, chị ấy chở mình đi chợ cách điểm mình ở chừng 20phút, gọi là đi vào núi vì ở trong đó mới có chợ. Dần dà thành thói quen luôn, không hẹn nhau nhưng cứ vào cuối tuần là chúng mình cùng nhau trên xe như đi phượt vậy, chị tinh tế và lắng nghe để lại cho mình cảm giác ấm áp, an toàn. Khi mình gặp khó khăn nhất trong khủng hoảng về những điều tiếng và hơn nữa là những thứ mình không hề làm thì có bà duy nhất luôn bênh đỡ mình là bà Vạn- cái bà miệng hùm gan sứa, nếu ai không ưa thì cho là bà ấy khó tính khó nết khó ở vô cùng tận vì chỉ cần làm khác ý một cái là bà góp ý nói liền. Gia đình bà sát vách nhà mình ở nhưng không làm rào chắn, có lẽ lâu lắm rồi mình mới thấy lại sự gần gũi của láng giềng khi chẳng xây rào xây tường mà qua lại tự do như vậy. Mình cũng rất ấn tượng với con dâu và con gái bà- chị đẹp người đẹp tính và thường có gì chị ấy cũng nói con trai Bắp-học trò của mình mang qua, không nhiều chuyện, không bàn tán chuyện thiên hạ. Và người cho mình những chốt hạ ấm áp và cao kiến nhất là bà cố Đàm-bà là cố của một sơ và một thầy dòng. Bà nhẹ nhàng và rất quyết đoán. Mọi chuyện ở cái ấp này bà rành cả nhưng chỉ không nói vì không phận sự gì đến mình. Bà luôn nói “sự thật mãi là sự thật”. Có bao giờ bạn bị gạt ra bên lề chưa? Rồi cho mình là kẻ tội đồ hay thứ gì đó đáng trách móc chưa? Và lúc đó với bạn yêu thương là gì?
               Những con người cho mình cảm giác rằng yêu thương chẳng cần những gì đao to búa lớn, những gì đó to tát cả nhưng là cử chỉ dành cho nhau trong yêu thương, chỉ vậy thôi là đủ. Sống hiến thân hiện diện giữa đời đòi hỏi quá nhiều thứ với mình mà trong khả năng tự hào sức riêng thì chẳng bao giờ có được. Mọi sự trống rỗng nơi mình có chỉ có Chúa và Đức Mẹ lấp đầy qua nhiều biến cố và qua từng ngày sống để cho mình xác tín hơn rằng: ở đâu có người tu sĩ, ở đó có niềm vui, ở đâu có Chúa ở đó có tình yêu thương. Mình tâm niệm rằng và chắc chắn rằng Chúa ở khắp mọi nơi trong cuộc sống này nhưng “Khi thế giới ngày càng có ít chỗ rõ ràng cho Chúa Giêsu, chúng ta cần tìm kiếm Ngài hơn nữa trong những nơi mà Ngài ẩn danh. Chúng ta hãy tìm Ngài ‘bằng tiếng Ngài’ như Maria Mácđala, chúng ta tìm Ngài nơi những người lạ trên đường như các môn đệ trên đường Ê-mau, chúng ta tìm Ngài nơi những vết thương của thế giới như tông đồ Tôma, chúng ta tìm Ngài khi Ngài đi qua những cánh cửa đóng kín vì sợ hãi, chúng ta tìm Ngài nơi Ngài mang đến ơn tha thứ và những khởi đầu mới.” Và mình cảm nhận rõ nét hơn nơi vùng sông nước này cho mình khởi đầu mới đầy tình yêu trọn hảo đến từ suối nguồn yêu thương là Chúa Giêsu và qua tình thương giữa con người với nhau.
          Mấy hôm nay trời chiều hay đổ cơn mưa rào sấm chớp đùng đùng, có hôm sét đánh rền trời, cháy lúa của người dân làm mình ớn lạnh sống lưng nhưng mình tin mình đang cố gắng nỗ lực mỗi ngày vì điều gì nơi vùng sông nước này trong giai đoạn đào tạo, mình lại có động lực mạnh sức hơn, mình bám sâu vào ân nghĩa Chúa hơn là người đời và mình quyện lòng hơn trong vòng tay Mẹ.
 
                                                                                          Hoàng Anh
 

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.