Bài mới nhất

 

         Từ khi tôi về vùng đất “lâu dài thịnh vượng”- Vĩnh Thạnh- Cần Thơ này, ở nơi căn nhà dài điển hình của người miền Tây nơi mênh mang cánh đồng, nơi tháp chuông nhà thờ như xuyên qua những đám mây như những cục bông goòng lơ lửng trên trời, có những con ghe rọt qua kênh từ sáng sớm tới đêm muộn. Tôi cứ nghe người ta nhắc suốt về cái tên Phượng! Người thì gọi là bà, người kêu chị, người kêu bác. Và người ta nhắc nhiều về cái chết đầy mạnh mẽ của bác.

         Bác sinh ra trong gia đình có truyền thống đạo đức, nề nếp tôn chỉ gia giáo của người Bắc di cư vào Nam khai hoang và lưu cư nhiều vùng khi cha đi đánh trận. Bác Phượng cười hiền hòa rạng rỡ, có mái tóc xõa vai gầy, nói chuyện hài hước, dễ nóng tính và cũng dễ cho qua. Bác không lấy chồng, không phải bác ế, không phải bác lỡ thì lỡ bước mà là bác hy sinh cho các anh em mình sống đời dâng hiến. Gia đình có 5 người đi tu và bác vẫn luôn khuyên các em mình “cứ đi đi có chị lo cho gia đình” rồi đến khi bác mất trước cả má mình, để lại nhiều nỗi day dứt cho các em đi tu, bác để lại cả một kho tàng những bài học sống làm người, làm con, làm chị làm em, làm một người sống đời độc thân làm việc nhà Chúa quảng đại. Bác chẳng học cao những lớp máy móc đóng sách vở ấy vậy mà những công việc trên máy tính thời hơn hai thập niên trước, bác đã soạn những tài liệu, đánh máy vi tính làm sách vở rộng rãi cộng tác cùng cha xứ. Bác chẳng được đào tạo từ nhạc viện mà cũng làm ca trưởng thành lập hai ca đoàn mà tới giờ khi bác đã đi xa, những hạt giống bác đã gieo trổ sinh bông hạt tới những thế hệ sau này. Bác chẳng được đào tạo diễn xuất mà cũng là cây văn nghệ có tiếng của vùng….tới ngay cả khi nhận tin bệnh hiểm nghèo khẽ chạm tới mình, bác vẫn chu toàn tất cả những bổn nhiệm ấy cách đơn thành và tín trung. Có lẽ vì những thứ sống động như thế mà người ta vẫn cứ nhắc tên bác mãi.

          Tròn 10 năm bác về với Chúa. Tôi chưa hề được sờ, ôm nơi da thịt bác ấy, vui, khóc cùng trải qua những truân chuyên trong đời bác ấy, nhưng sao tôi thấy bác ấy thật gần, rất gần với tôi ở đây. Người ta vẫn kể về cái chết của bác như được dự báo trước, như bác biết được giờ chết của mình mà sống trung kiên đến những giây phút cuối cùng bám chặt vào Chúa là Đấng chịu đóng đinh trước, rồi giờ thì tới mình vậy. Còn vài ngày cuối giờ tiễn biệt dương thế, bác nằm trên chiếc võng cũ đong đưa vài nhịp cho dịu bớt cơn đau, chẳng thể kêu ai. Nơi những nhịp điệu ấy chắc bác tạ ơn về hành trình được làm con Chúa, con của ba má cố của các linh mục, tu sĩ, là chị của các em mình, là em của các anh mình, là những người bà, người bác, người chị, người bạn mà để tới giờ tròn một thập niên đi qua người ta vẫn nhắc về cái tên Phượng! Nơi con nít nhìn thấy bác như một bà Tiên giáng trần luôn hiện đúng lúc chúng đang bị nạt nộ, nơi chúng đang thèm muốn một cây kẹo mút, một bịch snack. Nơi người hàng xóm láng giềng như một vị giảng hòa đầy uy thế trong cách xử trí khôn ngoan. Nơi một con chiên, bác đã chu toàn thật tốt nơi bậc sống bác đã chọn và làm việc Tông đồ. Nơi một người thân, bác đã sống hy sinh quảng đại cả cuộc đời để các anh em mình hiến thân để phục vụ tha nhân. Ấy thế mới nói, một người hy sinh làm hy lễ để hy lễ ấy dâng lên làm lễ tế, là Tấm Bánh được bẻ ra cho muôn người khác. Một vòng lặp của những hy sinh quên mình, quảng đại hiến dâng từ những nhỏ nhoi xiêu lòng cho nhiều cuộc đời khác được trổ sinh.

        Phượng! Người ta nghĩ đến những rực rỡ, những góc trời đỏ rực đẹp thật đẹp với những kỉ niệm đáng nhớ của mọi lứa tuổi. Và dẫu cho phượng có rụng xuống từ trên cây, người ta vẫn lấy những cánh phượng ấy ráp lại thành những con bướm, chú chim, bông hoa…nhiều hình thù đầy dấu ấn khác kẹp trong vở. Bác Phượng rời dương thế đây cũng đang vào mùa phượng nở rực rỡ nhất, những ngày hè đầy phượng đỏ rợp khung trời. Bác rời đi cũng vẫn giữ vẹn nguyên cái tên và đầy những rực rỡ của cuộc đời bác sống. Bởi thế, càng hè, người ta càng nhắc tên Phượng nhiều! Chẳng còn quá u buồn nuối tiếc cho những mất mát, lìa xa nhưng như những cánh phượng rực rỡ chan hòa trong nắng ngập tràn khung trời yêu của sự mộng mơ, tình yêu nồng cháy của mọi lứa tuổi. Bác Phượng vẫn mãi ở đó! Gieo vào đời những bài học hy sinh quên mình, quảng đại cho đi trong tất cả. Để giờ đây dù bác đã đi xa nhưng ai cũng vẫn thấy bác còn rất gần và rất thật, rất sống động được sáp nhập vào nơi mỗi người được nghe về cuộc đời bác, một cuộc đời như hạt lúa mì gieo xuống đất đã chết đi, thối đi để đơm hoa kết trái trổ sinh bông hạt.

Phượng! như ánh nắng ban mai,
Mang theo hơi ấm trải dài yêu thương.
Âm thầm bước giữa đời thường,
Sống theo Lời Chúa dẫn đường ngày đêm.

Bao lần lặng lẽ mỉm cười,
Nhận phần vất vả cho người hiến dâng.
Tấm lòng rộng mở dịu hiền,
Yêu thương trao gửi khắp nơi chân thành.

Hy sinh chẳng đợi công danh,
Quảng đại như gió mát lành mùa xuân.
Sống ôi! trọn nghĩa, trọn ân,
Để đời lưu lại muôn phần yêu thương.

Nguyện xin Chúa thắm tình thương,
Nhận lời con nguyện- Phượng về chốn thiêng
Để trong từng bước thời gian,
Chúng con tín cậy chỉ vào Ơn Trên.

Hoàng Anh

Biên lại ngay sau giờ kinh giỗ 10 năm bác Phượng

Cần Thơ, ngày 05 tháng 07 năm 2026

Miền Tây có một nền kinh tế tảo tần, tử tế nằm ở dưới ghe, tiếng rao trên đường, đầu chợ, cuối chợ, trong cái túi nilon buộc vội treo trước cửa nhà.

Nó vận hành bằng những con người chân chất, dễ gần, dễ thương, từ từ bình tĩnh và rất kém than thân.

Nền kinh tế ấy không sang, nhưng tinh và chất. Nó biết nhà nào có trẻ con không ăn sáng, mà ăn hộp sữa chua, bịch snack rồi đến trường, cụ nào kiêng mỡ, chị nào giảm cân, người nào dị ứng, ai đang kẹt thì cứ nói “ăn đi mơi tính, nào tính cũm đượt”.

Ở đó, dữ liệu khách hàng không nằm trên đám mây, nó nằm trong đầu bà bán thịt, anh bán cá, chị bán sữa chua, anh bán chổi, người bán cây dưới ghe, hàng xóm có trái bình bát chín mọng, có chiếc bánh bao thơm phức treo trước cổng nhà. Nó được lưu trữ bằng năm tháng và bằng một thứ tình cảm không thể gọi tên, vì gọi ra nghe hơi sến.


Người ta hay nói đến kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Miền Tây còn có kinh tế “mơi trả”, kinh tế “như mọi khi”, kinh tế “Hai ghi sổ”, “Tám cho thêm thịt”, “Bảy cho thêm bịch cốt dừa”…

Nó nhỏ, lắt nhắt, nhiều tiền lẻ. Nhưng chính tiền lẻ mới là thứ giữ cho con người ta sáp gần lại với nhau, ấm bụng theo nhiều nghĩa. Nền kinh tế này tử tế cả khi xã hội chạy đi khi gặp va chạm giao thông ở ngoài đường, thì họ lại lao vào và nói “gọi xe cho đi bệnh diện đi”, “lẹ lên hông con người ta chớt goỳ”… ôi cái nền kinh tế lục bục như nồi nước súp hủ tiếu trong quầy, bền bỉ như cái ghế nhựa đã nứt mà chưa chịu gãy.

Miền Tây hóa ra không giữ người ta bằng sự nghìn năm văn vở của những giáo sư hiền triết viết lách mà bằng những bịch nilon cốt dừa, đường thắng, vài cọng hành lá, vài trái ớt thêm sau khi đã mua hàng. Và bằng cái giọng dễ thương của người địa phương đầy chân thành, dễ mến.

Cái hay là trong cái nóng miền Tây, người ta vẫn ăn lẩu. Hàng hủ tiếu vẫn đỏ lửa, người ngồi quạt sườn cơm tấm bên bếp than. Lửa tiếp lửa làm cho người miền Tây luôn hào sảng, đầy tính nhiệt thành. Có khi nực rực trời người ta cảm nhận nắng nóng như đang phả vào mình hung hăng giao chiến. Nhưng tối đến, trời hồng phủ khắp trời yêu người ta lại ra đường, kéo ghế làm chén chè tào lao vài ba chuyện phiếm rồi về.

Người miền Tây mệt rồi vẫn thế, vẫn cứ nói trêu giỡn được sau một ngày vác lúa ướt sũng áo, vẫn ăn vội được hộp xôi rồi chạy xe tiếp, vẫn bán những thứ nhỏ bé tưởng chừng như bỏ, vẫn yêu nồng cháy dù ở trên ghe lênh đênh hay trên đường chạng vạng, vẫn cáu quạo vài ba lời thốt lên đặc sản, rồi vẫn cứ cười hào sảng.

Trong cái nóng rực lửa, cháy da, đen như Miên ấy, người miền Tây nom hơi mướt mát, hơi tội tội nhưng thật kiên cường và hạnh phúc như những mầm lúa non vươn lên từ rặng đường nứt nẻ.

Hoàng Anh


 

Chẳng khi nào lòng mình nguôi ngoai, cho những khát khao hướng về núi

Núi ôm mình vào lòng sau nhiều những chênh vênh,

 để mình lặng yên thênh thang trong hàng chiều lộng gió

Núi hôn khẽ lên bờ môi căng tràn tuổi trẻ mình,

với bao hương thơm qua những ráng chiều chạng vạng

Núi có trăng của những ngày cận rằm sau Tết

Trăng của núi tự do, tỏa sáng rực trời rồi mất hút trong làn mây tự khi nào

Núi có cỏ cây vươn lên mãnh liệt sau những giọt mưa xuân nhú chồi

Núi của mùa này sao mà yêu thương quá!

Mình thấy những thửa ruộng bậc thang xếp hàng hàng lớp lớp cùng tấm áo tím cài hoa rực,

Mình nghe được tiếng gió hiu hiu bay làn tóc rối bời

Nghe nắng nhảy lách tách trên từng chiếc lá, nụ hoa

Nghe hương thơm cỏ cây chạm vào những ngón tay mình khẽ chạm

Nghe hạt mầm gieo hôm nào trở mình

Và nghe thêm gió êm êm theo về

Ngồi yên nào, yên đủ lâu để nghe những điều rất khẽ đang chạm nơi trái tim

Mình hiểu có vài đổi thay cũng vừa chạm đến

Chưa gọi tên được đổi thay ấy, chỉ thấy mình đang khác đi.

Khác một cách rất hiền.

Chợt muốn giữ lại trong lòng, như giữ một buổi nắng ghé ngang hiên nhà.

Rồi thôi!

À không,

mình hẳn sẽ kể với một người.

Người đủ lặng để không hỏi thêm, 

và đủ thương để cùng mình góp nhặt tất cả những điều bé nhỏ, trong veo như cổ tích nơi miền sơn cước này.

Hoàng Anh



 

Mùa nước soi trăng

             Mỗi chiều xuống, trời Tây Bắc nhuộm hồng phủ lên hết cả dãy núi trong xanh trước mặt tôi là những đám mây hồng trôi lững lờ như người mẹ và đám con thơ trở về nhà sau một ngày với những thửa ruộng bậc thang mùa vụ. Những thửa ruộng bậc thang có nước nguồn đang về, soi bóng những dãy núi nhấp nhô, bạt ngàn, làm long lanh làn nước. Rồi cái nhìn của tôi cũng chếnh choáng và ươm thơ. Mùa này, tôi đã về với anh chị em H’mông.

             Khi ngồi lại để ngẫm về hành trình này, vang lên trong tôi lời Kinh Thánh trong Lc 10, 2-5 “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!”. Tôi đã ra đi và ở lại, ở giữa họ, giữa những người anh em đồng bào của mình, ăn chung, ngủ chung và mọi thứ sinh hoạt cùng nhau, về đời sống hằng ngày và cả về đời sống tôn giáo. Bản này mới theo đạo được hai tháng nay, mọi thứ với họ vẫn còn rất mơ hồ, họ sống giữa những anh chị em Tin Lành. Khi tôi có cơ hội được cộng tác với bất cứ vùng nào, điều tôi luôn mong muốn đó là được “ở cùng họ”. Kinh nghiệm này rất quý báu và phản ánh rõ việc sống chung, sống cùng và sống với con người với nhau. Hằng ngày, tụi trẻ con tụ tập tới để học kinh, chiều chiều tôi cùng mọi người đi chăn trâu, có hôm thì đi ruộng, có hôm thì đi coi nương ngô. Những ngày đầu, tôi bị ngã rất nhiều trên đường trơn, xoay sở làm sao để không bị ngã, đi chầm chậm mà vẫn kịp theo họ và theo trâu. Rồi những hôm đau tới ê ẩm toàn thân sau khi đi bộ trở về từ con đường đi ruộng hơn 30 phút đồng hồ. Tới cả những đêm nằm mà chỉ có ánh sáng duy nhất từ ánh trăng soi ngoài hiên nhà, xuyên qua những kẽ hở của căn nhà gỗ đặc trưng của người Hmông, đó là thứ ánh sáng duy nhất mà trong màn đêm tĩnh mịch, rõ cả tiếng dế giun cứ trôi cho tôi những tia sáng ấm áp và hiền dịu để ở lại. Từ những lúng túng ban đầu trong cách làm việc, đối thoại và sử dụng ngôn ngữ của họ, dần dà đã cho tôi những ngày ở đó một trải nghiệm và kinh nghiệm tuyệt vời về tình người trong sự hiện diện. Họ nói, tôi là người Kinh đầu tiên lên ở kiểu này với họ, họ thấy lạ vì xưa nay chưa có ai chịu được những thứ họ cho là khổ khi ở lại với họ. Với tôi, việc ở lại, sống chung, sống cùng và sống với họ rất thiêng liêng. Mỗi ngày hay mỗi khoảnh khắc, cử chỉ không chỉ còn là dạo qua mà như những buổi suy niệm đầy hoa và nến. Hết sức đơn sơ, vô cùng dung dị. Ở bản, có cụ già làng biết tiếng Kinh rất ít, cụ biết tiếng Tày và chủ yếu sử dụng tiếng Hmông, qua quan sát mấy ngày cụ thấy tôi không thể tắm được nước lạnh từ suối nên mỗi chiều tối tôi qua nhà cụ thì cụ đã nấu sẵn nước nóng và để đó cho tôi. Qua vài câu nói hỏi han và cử chỉ thấu hiểu cụ đã coi tôi trong tình thân với cụ, rồi cũng cho tôi cảm nhận một sự gắn kết đến lạ thường ở nơi một già làng hiện thân phản ánh bản. Chắc hẳn, chúng ta chạm nhau bởi trái tim và lý trí, đôi khi không cần những lời nói hoa mỹ hay cố gắng để tạo nét nhưng qua những cử chỉ, mọi người chạm nhau, chạm sâu thật sâu mà khi rời đi có cả những giọt nước mắt của sự níu lại.

         Tôi tin tưởng và ý thức sự hiện diện của chính Chúa Kitô đang hoạt động giữa những anh em của mình, giữa những trẻ thơ trong sương mỗi sớm và trên những ngọn đồi xa tít tắp với những công việc thường nhật, và Ngài hiện diện trong chính tôi. Chính khi này, tình yêu và niềm khao khát dấn thân “ở giữa họ” cho tôi một sức mạnh và sự kiên trung qua những biến cố. Nhà thơ người Anh John Donne đã viết: “Không ai là một hòn đảo, tự mình hoàn hảo được mình”. Tôi luôn cảm nhận Thiên Chúa thu hút chính tôi khi ở lại với họ, tham gia vào dòng chảy đời sống của mọi người như thể mỗi chúng ta đều là một gia đình gắn kết. Và nơi họ, tôi thấy Chúa, tôi thấy Chúa thật sống động qua từng hành động, từng cử chỉ dễ thương mà những em nhỏ vẫn tự nhiên mà có, nơi những anh chị em lam lũ nơi đồng áng, nương rẫy làm quanh năm suốt tháng như thể lao động chẳng biết mệt. Ở nơi nào có Chúa, tôi cảm thấy rất tự tin và luôn can đảm bước đi cùng họ. Là nơi núi đồi cao trập trùng, là như chênh vênh trên những con đường nhỏ nơi ruộng bậc thang, tôi vẫn ý thức mình đang bước đi trên mặt đất cùng với những người anh chị em của mình.

           Trăng sáng lên rõ từng cọng cỏ soi xuống thửa ruộng bậc thang mùa nước đầy, mai kia người dân sẽ đi cấy và rồi gặt lúa. Tôi soi chính mình xuống những làn nước long lanh ấy, thấy rõ mình dưới bóng trăng, dưới vòm trời và thấy tôi đang bước đi trên hành trình đầy hy vọng và tin tưởng này. Rồi tôi xác tín vào quyền năng và lòng thương xót của Thánh Tâm Chúa nơi suối nguồn dạt dào như Đức Thánh Cha Phanxico đã tuyên xưng đức tin cá nhân của mình trước khi chuẩn bị cho việc thụ phong Linh mục, Ngài viết trong hồi ký tự truyện Hy Vọng:

Tôi muốn tin vào Thiên Chúa là cha,

Đấng yêu thương tôi như một người con,

và tin vào Đức Giêsu là Chúa

Đấng thổi Thần Khí vào cuộc đời tôi,

để cho tôi được nở nụ cười

và dẫn tôi vào vương quốc hằng sống.

Tôi tin rằng những người khác tốt lành,

tôi phải yêu thương tất cả không sợ hãi

không bao giờ được phép phản bội,

để tìm kiếm an toàn cho bản thân.

Tôi tin vào cuộc đời hiến dâng.

Tôi tin rằng tôi muốn yêu thương tha thiết.

Tôi tin vào cái chết từng ngày bỏng rát

Dù trốn chạy, nó vẫn mỉm cười

mời gọi tôi vui tươi đón nhận.

Tôi tin vào lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa,

luôn hiền hòa và bao dung như đêm hè yên bình.

Hoàng Anh

                      

 

 

Với bạn, yêu thương bao nhiêu là đủ?


            Cũng lâu rồi mình mới rời xa Sài Gòn lâu thế, mọi khi đi cỡ 1-2 tuần là trở lại xong rồi đi đâu thì đi trừ khi mình về quê. Dịp này đi cũng gần cả tháng rồi mà mình chưa trở lại thành phố. Cái cảm giác nhớ nhung nơi mình gắn bó nó trỗi dậy, nó quấn lấy người mình như tigon mỏng manh bám chặt vào dây rào chăng chéo, mình nhớ những cảm giác ân tình của những con người xa lạ với nhau mà lại trao cho nhau bao nhiêu điều thân tình. Dịp này tuy không ở Sài Gòn nhưng cái cảm giác ấy cho mình tròn đầy hơn khi về miền Tây này.
            Mình về đây dạy học cho con nít, chữa bệnh cho người dân. Công việc hàng ngày là vậy gắn liền với nhà thờ và mọi người. Về nơi quen cũ mà như mới, mình đối diện với làn sóng vu khống, đặt điều và đủ thứ thật giả của vùng sông nước này. Nhưng may thay vẫn luôn có những người tốt, và mình vẫn sống như cách mình là. Những người chưa tin đâu vào đâu thì không dám đối diện với mình, còn ai tốt thì vẫn thế. Mà cũng rất khó để nhận định rằng ai tốt với mình! Nhưng mình sống không là hòn đảo mà nên những ai đối tốt với mình theo lẽ thường thì đó là người tốt. Hàng ngày, bệnh nhân mang trái cây đề huề tới cho mình đến nỗi có một mình ăn không thể nổi phải đi chia bớt, rồi tự lúc nào mình có tên là Cô Kẹo vì thói quen là lúc nào cũng có rất nhiều kẹo khi con nít xuất hiện là chúng có kẹo ngay. Mình ấn tượng với chị Hạnh- mẹ bé Sol lớp chồi mà mình dạy học, chị cao dữ lắm và cũng đẹp, không phải do chị luôn giúp mình ân cần khi mình về đây nhưng ai tiếp xúc cũng sẽ thấy chị ấy luôn nhiệt tình như thế. Hàng tuần, chị ấy chở mình đi chợ cách điểm mình ở chừng 20phút, gọi là đi vào núi vì ở trong đó mới có chợ. Dần dà thành thói quen luôn, không hẹn nhau nhưng cứ vào cuối tuần là chúng mình cùng nhau trên xe như đi phượt vậy, chị tinh tế và lắng nghe để lại cho mình cảm giác ấm áp, an toàn. Khi mình gặp khó khăn nhất trong khủng hoảng về những điều tiếng và hơn nữa là những thứ mình không hề làm thì có bà duy nhất luôn bênh đỡ mình là bà Vạn- cái bà miệng hùm gan sứa, nếu ai không ưa thì cho là bà ấy khó tính khó nết khó ở vô cùng tận vì chỉ cần làm khác ý một cái là bà góp ý nói liền. Gia đình bà sát vách nhà mình ở nhưng không làm rào chắn, có lẽ lâu lắm rồi mình mới thấy lại sự gần gũi của láng giềng khi chẳng xây rào xây tường mà qua lại tự do như vậy. Mình cũng rất ấn tượng với con dâu và con gái bà- chị đẹp người đẹp tính và thường có gì chị ấy cũng nói con trai Bắp-học trò của mình mang qua, không nhiều chuyện, không bàn tán chuyện thiên hạ. Và người cho mình những chốt hạ ấm áp và cao kiến nhất là bà cố Đàm-bà là cố của một sơ và một thầy dòng. Bà nhẹ nhàng và rất quyết đoán. Mọi chuyện ở cái ấp này bà rành cả nhưng chỉ không nói vì không phận sự gì đến mình. Bà luôn nói “sự thật mãi là sự thật”. Có bao giờ bạn bị gạt ra bên lề chưa? Rồi cho mình là kẻ tội đồ hay thứ gì đó đáng trách móc chưa? Và lúc đó với bạn yêu thương là gì?
               Những con người cho mình cảm giác rằng yêu thương chẳng cần những gì đao to búa lớn, những gì đó to tát cả nhưng là cử chỉ dành cho nhau trong yêu thương, chỉ vậy thôi là đủ. Sống hiến thân hiện diện giữa đời đòi hỏi quá nhiều thứ với mình mà trong khả năng tự hào sức riêng thì chẳng bao giờ có được. Mọi sự trống rỗng nơi mình có chỉ có Chúa và Đức Mẹ lấp đầy qua nhiều biến cố và qua từng ngày sống để cho mình xác tín hơn rằng: ở đâu có người tu sĩ, ở đó có niềm vui, ở đâu có Chúa ở đó có tình yêu thương. Mình tâm niệm rằng và chắc chắn rằng Chúa ở khắp mọi nơi trong cuộc sống này nhưng “Khi thế giới ngày càng có ít chỗ rõ ràng cho Chúa Giêsu, chúng ta cần tìm kiếm Ngài hơn nữa trong những nơi mà Ngài ẩn danh. Chúng ta hãy tìm Ngài ‘bằng tiếng Ngài’ như Maria Mácđala, chúng ta tìm Ngài nơi những người lạ trên đường như các môn đệ trên đường Ê-mau, chúng ta tìm Ngài nơi những vết thương của thế giới như tông đồ Tôma, chúng ta tìm Ngài khi Ngài đi qua những cánh cửa đóng kín vì sợ hãi, chúng ta tìm Ngài nơi Ngài mang đến ơn tha thứ và những khởi đầu mới.” Và mình cảm nhận rõ nét hơn nơi vùng sông nước này cho mình khởi đầu mới đầy tình yêu trọn hảo đến từ suối nguồn yêu thương là Chúa Giêsu và qua tình thương giữa con người với nhau.
          Mấy hôm nay trời chiều hay đổ cơn mưa rào sấm chớp đùng đùng, có hôm sét đánh rền trời, cháy lúa của người dân làm mình ớn lạnh sống lưng nhưng mình tin mình đang cố gắng nỗ lực mỗi ngày vì điều gì nơi vùng sông nước này trong giai đoạn đào tạo, mình lại có động lực mạnh sức hơn, mình bám sâu vào ân nghĩa Chúa hơn là người đời và mình quyện lòng hơn trong vòng tay Mẹ.
 
                                                                                          Hoàng Anh
 

 



Dịp cận Tết vừa rồi, tôi có cơ hội được ghé thăm vùng truyền giáo xa xôi của tỉnh Bắc Kạn đó là gíao họ Pác Nặm và các bản làng thuộc giáo họ Pác Nặm. Đến với những anh chị em người Kinh di dân và những người anh chị em H’mông trên đỉnh những ngọn đồi xanh bạt ngàn. Với một người đã gắn bó với anh chị em đồng bào H’mông ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ hơn 6 năm qua, cơ hội lần này cho tôi một trải nghiệm rất thú vị và khá đặc biệt với những con người ở đó.

Từ Sài Gòn trở ra dịp cận Tết, tôi đón một không khí lạnh, tê tái luôn. Dịp cuối năm ai cũng bận rộn chúc Tết, nên cha quản nhiệm ở điểm truyền giáo cũng không có nhà, giáo dân cũng bận rộn với những món hàng và những phiên chợ liên tục trong gió trời lạnh buốt của vùng cao. Mọi người ở giáo họ vùng truyền giáo này ai cũng thân thương hết cả.Tôi cũng tất bật đón đưa con cái họ đi học, rồi chở những món hàng tới chợ phiên, nhịp sống cuối năm thật làm con người ta xoay vần biết mấy. Tôi xin đi lên bản ở với anh chị em H’mông.

Không phải là lần đầu tiên tôi đến với người đồng bào, nhưng sự gần gũi và thân thương ở đây cho tôi cảm giác thân tình ngay từ những cái chạm đầu tiên. Nhà nơi tôi lưu trú thuộc một trong 7 giáo điểm truyền giáo mà cha quản nhiệm Phêrô Nguyễn Quang Doãn đảm nhận. Từng cử chỉ, từng hành động và mỗi lời nói khi chia sẻ về chính mình, về đời sống và về vị mục tử của mình, tôi cảm nhận như đây là một gia đình, có vị cha chung rất đỗi gần gũi và mang đầy hương vị tình thân ở nơi con cái các điểm bản.

Những nơi tôi đã từng đi qua, có lẽ đã là cái nôi của vùng truyền giáo nên mọi việc đạo đức đã thành cái nếp nhưng nhiều khi cũng lộn xộn vì vài “thành phần”. Rồi ngay cả khi cái ăn, cái mặc họ còn chưa đủ thì việc thờ phượng đâu đã thành toại được. Tôi cũng hiểu điều đó, nên đến mỗi điểm, tôi luôn ước mong rằng: cánh đồng truyền giáo là đây. Mảnh đất này chỉ đợi thợ gặt lành nghề đến và cắt tỉa, gọt giũa là bằng đời sống chứng nhân của mình, chứ không phải bằng những gì mau qua chóng mất nơi vật chất, nơi quyền hành và những giáo sĩ trị nơi những “người bạn” của Chúa ấy. Ở điểm truyền giáo nơi Pác Nặm xa xôi này, tôi thấm thía điều đó hơn và êm lòng khi thấy được những đổi thay trong cách truyền giáo của vị mục tử ở vùng này. Con cái không bị phụ thuộc vào những mau qua chóng mất ấy, họ tin và tìm Chúa thực sự bằng đời sống cầu nguyện và họ tin rằng “có Chúa luôn ở với mình, ngự trị nơi vùng trời mình ở, canh giữ hết mọi thứ ngay cả những con vật nuôi trong nhà trong nương trong rẫy”. Ôi thật tuyệt vời biết bao!

         Có một trải nghiệm rất thú vị mà làm tôi nhớ tới giờ, đúng dịp Tuần Thánh chuẩn bị bước vào Tam nhật Thánh – đỉnh cao của Phụng vụ, tôi liên hệ để chia sẻ. Ở vùng truyền giáo ấy, cha quản nhiệm Phêrô đã đảm nhận hết tất cả, có đủ các đồng bào Kinh, H’mông, Dao và đủ các tôn giáo. Chắc hẳn, vị mục tử cũng đã vật lộn rất nhiều và bước trên những sỏi đá gập ghềnh biết mấy. Khi ở bản, tôi đã được đi thăm hết các anh chị em, có cả lương dân và cả những anh chị em Tin Lành, ai cũng có chút đọng lại về hình ảnh của vị mục tử ở nơi đó. Rồi khi trở lại với anh chị em của mình, tôi hỏi một người giáo dân trong bản là: “Có bao giờ chú bán cha cho ai chưa?” Ông chú người H’mông da mặt mềm nhũn, đôi mắt một mí đặc trưng chợt ửng hồng cùng với những đồi mồi tuổi xế chiều thốt lên: “Tsis! Tsis yog” (Không, Không!). Rồi ông bắt đầu kể ra nhiều thứ để khẳng định với tôi rằng không có lý do gì để bán vị mục tử của mình cho ai khác. Việc ông chú hiểu từ “bán” ở đây nghĩa là kể xấu cha với người Tin Lành và cả việc cha sẽ phải rời khỏi điểm truyền giáo của họ mà đi. Nghe thật dễ thương, làm cho lòng tôi rộn nhịp với bao hân hoan. Và tin chắc rằng, việc truyền giáo trên cánh đồng đại ngàn này đã làm cho lòng nhiệt thành và những bước chân rao truyền của vị mục tử tín thác. Nhìn lại trong tâm tình Tuần Thánh này, chúng ta được nghe nhiều về việc Giuđa đã bán Chúa 30 đồng bạc thấy bẽ bàng biết mấy để Giêsu phải chịu đau khổ, vác Thập giá, đi con đường lên đồi Gongotha rồi chịu đóng đinh cho đến chết và Ngài Phục Sinh vinh quang. Chúng ta tự hỏi rồi mình đã bán Chúa hay những người đại diện Chúa ở trần gian này cho ai chưa? Việc truyền giáo chưa bao giờ là bằng phẳng. Con đường ấy rồi luôn có những lúc “Máu sẽ đổ ra để cho nhiều người được tha tội” (Mt 26,28) rồi được trở lại và nên Một với Con của Người. Trong cuốn sách Hãy để Đức Kitô chiếm lấy bạn tôi đã đọc cách đây mấy năm có câu nói của vị linh hướng người Pháp nói về việc truyền giáo thế này: “Đức Ki-tô của việc truyền giáo không phải là một Đức Ki-tô trong nước hoa hồng, một Đức Ki-tô trong đường ngọt”. Ngay khi đọc được đoạn ấy, tôi thốt lên “Ai mà làm được như Đấng Thánh ấy! Ôi thật là một con người Điên”.

         Cánh đồng truyền giáo ở vùng cao luôn nở rộ những bông vàng nặng trĩu, đợi chờ những bước chân tới gặt hái để đầy mùa, rồi đầy giỏ đầy thuyền, chúng ta bội thu những nhân chứng cho Tin Mừng thời đại số, thời đại của những thức ăn nhanh công nghiệp mau qua chóng hết. Cánh đồng ấy mướt mát xanh trên những ngọn đồi ruộng bậc thang hùng vĩ mời gọi những “người điên” vì sứ mạng cuộc đời đến gieo hạt và rồi “điên” thật nhiều hơn đến đó để thu hoạch. Chúng ta phải “Điên rồ” lên khi lao mình vào những trận chiến linh hồn để hầu muốn thu phục những linh hồn ấy về với Trời bởi chúng ta là những người được tuyển chọn, hãy “Điên” trong quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa suốt cuộc đời. (1Cr 1,24). Chỉ khi ấy, chúng ta mới viên mãn trong suối nguồn Tình yêu đích thực, được gặm nhấm từng chút ân ban chảy không ngừng trên cuộc đời lữ hành.

           Hôm ấy, tôi rời Pác Nặm đi, vùng trời nhìn đẹp lắm, quyện lòng tôi nhiều suy nghĩ vấn vương và cả những thổn thức tim lòng cho việc truyền giáo:

Chiều rời Pác Nặm hoàng hôn xuống

ráng chiều ngất trời ôi đầy mây

nhận chìm hồn trí thuở nao núng,

đã biết không sầu chẳng cách biệt

cớ sao mà lại có yêu thương

Ôi hỡi những lòng người ta gặp

Đây muôn dặm trường nhiều lắng suy

Mang theo bốn mùa, mà xuân này màu tưởng nhớ

Chẳng thề giăng gió cũng tơ vương…

 

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.