Mùa nước soi trăng
Mỗi chiều xuống, trời Tây Bắc nhuộm
hồng phủ lên hết cả dãy núi trong xanh trước mặt tôi là những đám mây hồng trôi
lững lờ như người mẹ và đám con thơ trở về nhà sau một ngày với những thửa ruộng
bậc thang mùa vụ. Những thửa ruộng bậc thang có nước nguồn đang về, soi bóng những
dãy núi nhấp nhô, bạt ngàn, làm long lanh làn nước. Rồi cái nhìn của tôi cũng
chếnh choáng và ươm thơ. Mùa này, tôi đã về với anh chị em H’mông.
Khi ngồi lại để ngẫm về hành trình
này, vang lên trong tôi lời Kinh Thánh trong Lc 10, 2-5 “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại
ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra
đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang
theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất
cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!”. Tôi đã ra đi và ở lại, ở giữa họ, giữa những
người anh em đồng bào của mình, ăn chung, ngủ chung và mọi thứ sinh hoạt cùng
nhau, về đời sống hằng ngày và cả về đời sống tôn giáo. Bản này mới theo đạo được
hai tháng nay, mọi thứ với họ vẫn còn rất mơ hồ, họ sống giữa những anh chị em
Tin Lành. Khi tôi có cơ hội được cộng tác với bất cứ vùng nào, điều tôi luôn
mong muốn đó là được “ở cùng họ”. Kinh nghiệm này rất quý báu và phản ánh rõ việc
sống chung, sống cùng và sống với con người với nhau. Hằng ngày, tụi trẻ con tụ
tập tới để học kinh, chiều chiều tôi cùng mọi người đi chăn trâu, có hôm thì đi
ruộng, có hôm thì đi coi nương ngô. Những ngày đầu, tôi bị ngã rất nhiều trên
đường trơn, xoay sở làm sao để không bị ngã, đi chầm chậm mà vẫn kịp theo họ và
theo trâu. Rồi những hôm đau tới ê ẩm toàn thân sau khi đi bộ trở về từ con đường
đi ruộng hơn 30 phút đồng hồ. Tới cả những đêm nằm mà chỉ có ánh sáng duy nhất
từ ánh trăng soi ngoài hiên nhà, xuyên qua những kẽ hở của căn nhà gỗ đặc trưng
của người Hmông, đó là thứ ánh sáng duy nhất mà trong màn đêm tĩnh mịch, rõ cả
tiếng dế giun cứ trôi cho tôi những tia sáng ấm áp và hiền dịu để ở lại. Từ những
lúng túng ban đầu trong cách làm việc, đối thoại và sử dụng ngôn ngữ của họ, dần
dà đã cho tôi những ngày ở đó một trải nghiệm và kinh nghiệm tuyệt vời về tình
người trong sự hiện diện. Họ nói, tôi là người Kinh đầu tiên lên ở kiểu này với
họ, họ thấy lạ vì xưa nay chưa có ai chịu được những thứ họ cho là khổ khi ở lại
với họ. Với tôi, việc ở lại, sống chung, sống cùng và sống với họ rất thiêng
liêng. Mỗi ngày hay mỗi khoảnh khắc, cử chỉ không chỉ còn là dạo qua mà như những
buổi suy niệm đầy hoa và nến. Hết sức đơn sơ, vô cùng dung dị. Ở bản, có cụ già
làng biết tiếng Kinh rất ít, cụ biết tiếng Tày và chủ yếu sử dụng tiếng Hmông,
qua quan sát mấy ngày cụ thấy tôi không thể tắm được nước lạnh từ suối nên mỗi
chiều tối tôi qua nhà cụ thì cụ đã nấu sẵn nước nóng và để đó cho tôi. Qua vài
câu nói hỏi han và cử chỉ thấu hiểu cụ đã coi tôi trong tình thân với cụ, rồi
cũng cho tôi cảm nhận một sự gắn kết đến lạ thường ở nơi một già làng hiện thân
phản ánh bản. Chắc hẳn, chúng ta chạm nhau bởi trái tim và lý trí, đôi khi không
cần những lời nói hoa mỹ hay cố gắng để tạo nét nhưng qua những cử chỉ, mọi người
chạm nhau, chạm sâu thật sâu mà khi rời đi có cả những giọt nước mắt của sự níu
lại.
Tôi tin tưởng và ý thức sự hiện diện của chính Chúa Kitô đang hoạt động
giữa những anh em của mình, giữa những trẻ thơ trong sương mỗi sớm và trên những
ngọn đồi xa tít tắp với những công việc thường nhật, và Ngài hiện diện trong
chính tôi. Chính khi này, tình yêu và niềm khao khát dấn thân “ở giữa họ” cho
tôi một sức mạnh và sự kiên trung qua những biến cố. Nhà thơ người Anh John
Donne đã viết: “Không ai là một hòn đảo, tự mình hoàn hảo được mình”. Tôi luôn
cảm nhận Thiên Chúa thu hút chính tôi khi ở lại với họ, tham gia vào dòng chảy
đời sống của mọi người như thể mỗi chúng ta đều là một gia đình gắn kết. Và nơi
họ, tôi thấy Chúa, tôi thấy Chúa thật sống động qua từng hành động, từng cử chỉ
dễ thương mà những em nhỏ vẫn tự nhiên mà có, nơi những anh chị em lam lũ nơi đồng
áng, nương rẫy làm quanh năm suốt tháng như thể lao động chẳng biết mệt. Ở nơi
nào có Chúa, tôi cảm thấy rất tự tin và luôn can đảm bước đi cùng họ. Là nơi
núi đồi cao trập trùng, là như chênh vênh trên những con đường nhỏ nơi ruộng bậc
thang, tôi vẫn ý thức mình đang bước đi trên mặt đất cùng với những người anh
chị em của mình.
Trăng sáng lên rõ từng cọng cỏ soi xuống thửa ruộng bậc thang mùa nước đầy,
mai kia người dân sẽ đi cấy và rồi gặt lúa. Tôi soi chính mình xuống những làn
nước long lanh ấy, thấy rõ mình dưới bóng trăng, dưới vòm trời và thấy tôi đang
bước đi trên hành trình đầy hy vọng và tin tưởng này. Rồi tôi xác tín vào quyền
năng và lòng thương xót của Thánh Tâm Chúa nơi suối nguồn dạt dào như Đức Thánh
Cha Phanxico đã tuyên xưng đức tin cá nhân của mình trước khi chuẩn bị cho việc
thụ phong Linh mục, Ngài viết trong hồi ký tự truyện Hy Vọng:
Tôi muốn tin vào Thiên Chúa là cha,
Đấng yêu thương tôi như một người con,
và tin vào Đức Giêsu là Chúa
Đấng thổi Thần Khí vào cuộc đời tôi,
để cho tôi được nở nụ cười
và dẫn tôi vào vương quốc hằng sống.
Tôi tin rằng những người khác tốt lành,
tôi phải yêu thương tất cả không sợ hãi
không bao giờ được phép phản bội,
để tìm kiếm an toàn cho bản thân.
Tôi tin vào cuộc đời hiến dâng.
Tôi tin rằng tôi muốn yêu thương tha thiết.
Tôi tin vào cái chết từng ngày bỏng rát
Dù trốn chạy, nó vẫn mỉm cười
mời gọi tôi vui tươi đón nhận.
Tôi tin vào lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa,
luôn hiền hòa và bao dung như đêm hè yên bình.
Hoàng Anh
Đăng nhận xét